#Trà_ký_2 – Văn hoá trà Việt: hơi thở từ nhân gian
#Trà_ký_2 – Văn hoá trà Việt: hơi thở từ nhân gian
“Nếu trà Nhật là nghi lễ, trà Trung là tôn ti, thì trà Việt là tình.”
Bài trà ký thứ 2 là nốt chạm đầu tiên khi tôi quay về chạm vào dòng trà đang chảy trong mình. Duyên này bắt nguồn từ việc một người bạn từng hỏi tôi: “Thiền là gì?”
Tôi bảo, “Là quan sát hơi thở.”
Bạn ấy lại hỏi: “Nhưng hơi thở vốn sẵn có, cần gì phải để ý?”
Câu hỏi đó làm tôi nhớ đến hành trình đi tìm hiểu văn hoá trà Việt của mình.
Có người bảo: “Trà Việt ngấm sâu vào nếp sống rồi, cần gì tìm hiểu?”
Có người lại bảo: “Người Việt không có văn hoá trà.”
Lại có nhận định: “Cần phải phục hồi lại văn hoá trà Việt.”
Tôi đã từng day dứt về Văn hoá trà Việt ở những lật trang đầu tiên trong hành trình trà của mình. Và tôi chợt nhận ra, nếu thiền cần ta quay lại nhận biết hơi thở vốn sẵn có, thì văn hoá trà Việt cũng vậy, nó chưa bao giờ mất, chỉ là ta đã thôi không nhận ra nó.

Trà Nhật phát triển từ Thiền tông (Zen), đặc biệt là ảnh hưởng của Rinzai nơi nhấn mạnh sự tỉnh giác trong từng hành vi nhỏ nhất. Người Nhật uống trà như một nghi lễ đi qua nhiều tầng lọc. Trước khi được chạm đến chén trà, họ thay áo, tắm rửa, thanh tịnh thân. Rồi đi qua những hành lang, những phòng trà nhỏ, đến một không gian trống, nơi chỉ còn lại họ và chén trà.
Trà Nhật không chỉ là nghi lễ, mà là “nghi lễ hóa cái vô nghi lễ”.
Mỗi bước rửa tay, cúi chào, xoay chén không phải hình thức, mà là con đường để trống rỗng tâm.
Người Nhật thiết lập khung cảnh (phòng trà, vườn lối nhỏ, cửa thấp phải cúi người…) chính là để ép thân khuất ngã để cái tôi phải hạ xuống. Mọi chi tiết đều có mục đích: mượn cảnh để đổi tâm. Hay “Trà đạo Nhật không chỉ đơn giản là nghi lễ để tĩnh, mà là nghi lễ để trống ngã.”
Giữa một xã hội tất bật, họ cần những khoảng trống được dàn dựng để tìm lại sự yên tĩnh, an trú. Người Nhật tạo ra nghi lễ để tìm lại khoảng trống trong chính mình. Họ cần dàn cảnh để thấy được cái vô cảnh. Và trà đạo Nhật chính là nghệ thuật của sự sắp đặt từ hình, đến nghi, đến ý.
Trà Trung là cội nguồn triết học và nghệ thuật của toàn Á Đông. Nó gắn liền với Đạo – Nho – Thiền, và thể hiện tinh thần Trung dung – Hòa nhi bất đồng. Cái tôn ti trong trà Trung không phải chỉ là cấp bậc xã hội, mà là biểu hiện của trật tự vũ trụ (Thiên – Địa – Nhân).
Người Trung Quốc xem trà là biểu tượng của thứ bậc và lễ nghi.
Trong một buổi trà, chén tống – chén quân – chén khách – chén chủ
phân định rõ vai trò:ai rót, ai nhận, ai trước, ai sau – tất cả đều là trật tự trong sự hài hoà.
Người Trung uống trà như đọc một bài minh triết: trên có Trời (Thiên), dưới có Đất (Địa), giữa là Người (Nhân). Cách họ sắp chén, rót nước, nâng tay… đều ẩn chứa quan niệm: Muốn giữ vị trà phải giữ thế giới trong cân bằng.
Trà của họ vừa là nghệ thuật, vừa là biểu hiện của “đạo quân thần”,
nơi tôn ti không bị phá vỡ. Với họ, trật tự không phải để bó buộc, mà để giữ cho mọi thứ không rơi vào hỗn loạn.
Một chén trà được nâng lên, không chỉ để uống mà để nhắc nhớ về vị trí và bổn phận trong đời sống.
Trà Việt từ xưa đến nay không chỉ có một văn hoá mà có ba tầng song song
(1) Tầng cung đình – quan lại – trí sĩ
(2) Tầng dân gian – thôn quê – cộng đồng
(3) Tầng thị dân – tư sản phong trào mới
Khi tầng 1 là tầng trà đạo theo kiểu Nho – Lão, chịu ảnh hưởng Trung Hoa. Và tầng 3 là tầng giao thoa, phong cách mới, giữa Đông và Tây, giữa phong kiến và thực dân, dần hoà hợp như biểu tượng gia đình có văn hoá, con người có văn hóa. Thì tầng 2 là một nền trà dân gian rất mạnh, là linh hồn thật của trà Việt.
Ngay nơi gốc đa đầu làng, nơi chiếu trà giữa sân đình, nơi bát chè xanh bên thửa ruộng đang cầy, hay giữa gian phòng khách trong nhà, trong câu hát, trong dịp hiếu hỷ… Đó là trà Việt. Không nghi lễ rườm rà, không tầng bậc phân chia. Một ấm, một tích, vài chén nhỏ san đều. Chén đầu nhạt cho trẻ nhỏ, chén sau đậm cho người già, mọi người cùng chia chung một hương, một vị.
Trà Việt không có tống, không có quân, không có chủ, bởi người Việt coi nhau là người thân, không là vai vế, là bình đẳng, là hoà hợp. Ở trà Việt, trà không được dựng cảnh để tu mà đã là đời sống. Trà nằm trong tiếng cười dưới gốc đa đầu làng, trong khói bếp buổi sớm, trong buổi họp thôn, trong cuộc gặp bạn lâu ngày, trong lời hỏi thăm hàng xóm: “Uống chén trà đã?”
Trà Việt là thiền trong sinh hoạt, là hơi thở giữa chợ đời, vừa mộc, vừa thật, vừa đủ. Không tách biệt tu hành và đời sống, vì trà đã là đạo trong nhân gian, chứ không phải của Nho phong hay thiền tông. Ở đó, trà thuộc về mọi người, và chính điều này làm nên nét riêng khác trà Trung Hoa và Nhật Bản.
Ở Trung Hoa, chén trà dâng theo tôn ti., tìm hoà trong trật tự.
Ở Nhật Bản, chén trà dâng trong im lặng, tìm sự tĩnh trong nghi lễ.
Còn ở Việt Nam, chén trà chuyền tay không phân biệt, như nụ cười, như câu chào buổi sáng.
Văn hoá trà Việt, đã sống như hơi thở, chỉ cần nhận diện và đón nhận.
Mỗi lần tìm về văn hoá trà, tôi đều nhớ quê nhà. Không ai nói về đạo, không ai gọi là thiền, chỉ có người rót, người uống, người cười.
Có lẽ trà Việt không cần được định nghĩa, nó chỉ cần được sống trong cách ta mời nhau một chén nước, trong hơi ấm san đều, trong tiếng “uống đi” giản dị mà chân thành.
Tôi vẫn nghĩ, giữa bao nghi lễ của đời, được ngồi yên bên một chén trà quê, chính là nghi lễ đẹp nhất.
Không ai dạy ai về đạo, chỉ có lòng người đang cùng ấm lại.
Trà không chọn người.
Người chọn cách sống với trà.
Bình luận bài viết